NVT
http://tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/2839/index.aspx
Cách đây khoảng 10 năm (giữa năm 1998), tập san khoa học số 1 trên thế giới, Science, có một loạt bài điểm qua tình hình khoa học ở các nước Á châu và đặc biệt là Đông Nam Á. Trong loạt bài này, Science không có đến một chữ nào nói về khoa học ở Việt
Trong vòng 10 năm qua, kinh tế nước ta phát triển thuộc vào hàng nhất nhì trong vùng, và một bộ phận lớn dân số đã thoát cảnh nghèo đói. Thành tựu xóa đói giảm nghèo ở nước ta được quốc tế ghi nhận và ca ngợi. Các chuyên gia kinh tế xem công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta như là một tấm gương sáng, một bài học cho các nước đang phát triển noi theo.
Nhưng trong 10 năm qua, khoa học Việt
Những con số tăng trưởng về công trình nghiên cứu khoa học trên có thể làm cho chúng ta lạc quan. Nhưng những con số đó có thể đánh lừa chúng ta, nếu chúng ta không đặt chúng vào bối cảnh phát triển trong vùng, chẳng hạn như so sánh với
Khi so sánh với Thái Lan, chúng ta mới thấy khoa học của ta có xu hướng đi lùi. Năm 1996 số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam bằng khoảng 28% số bài báo từ Thái Lan; 10 năm sau, tỉ lệ này giảm xuống còn 20%! Nói cách khác, tuy số bài báo khoa học từ nước ta có phần gia tăng trong 10 năm qua, nhưng tỉ lệ tăng trưởng còn quá thấp, và hệ quả là nước ta càng ngày càng trượt dài so với các nước đang phát triển trong vùng.
Thật ra, theo phân tích của chúng tôi, chỉ có 20% (hay 1 phần 5) các công trình nghiên cứu khoa học từ Việt Nam là do nội lực, tức hoàn toàn thực hiện bởi các nhà khoa học trong nước mà không có sự giúp đỡ của đồng nghiệp nước ngoài. Phần 80% còn lại là do hợp tác với với các nhà khoa học nước ngoài. Ở Thái Lan, tỉ lệ công trình nội lực khoảng 30%, và ở Singapore tỉ lệ này dao động từ 30 đến 45% trong vòng 10 năm qua.
| Bảng 1. Số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam, Thái Lan, và | |||||
| Năm | Số bài báo khoa học | Tỉ số bài báo khoa học | |||
| Việt | Thái Lan | | VN / Thái Lan | VN / | |
| 1996 | 202 | 723 | 1948 | 0,28 | 0,10 |
| 1997 | 222 | 797 | 2275 | 0,28 | 0,10 |
| 1998 | 239 | 971 | 2629 | 0,25 | 0,09 |
| 1999 | 248 | 1085 | 3210 | 0,23 | 0,08 |
| 2000 | 320 | 1214 | 3565 | 0,26 | 0,09 |
| 2001 | 355 | 1376 | 4040 | 0,26 | 0,09 |
| 2002 | 355 | 1625 | 4440 | 0,22 | 0,08 |
| 2003 | 496 | 2104 | 5117 | 0,24 | 0,10 |
| 2004 | 429 | 2090 | 5370 | 0,21 | 0,08 |
| 2005 | 590 | 2609 | 6426 | 0,23 | 0,09 |
| 2006 | 603 | 3007 | 6613 | 0,20 | 0,09 |
| Nguồn: số liệu của tác giả, được thu thập từ các cơ sở dữ liệu như ISI, SCI, SCI-Expanded, SSCI, và AHCI. | |||||
Điều đáng quan tâm hơn là tỉ lệ công trình nghiên cứu khoa học nội lực ở nước ta không tăng mà còn có xu hướng giảm. Điều này có nghĩa là hiện nay các nhà khoa học nước ta chỉ công bố được khoảng 120 bài báo khoa học mỗi năm!
Cần nhắc lại rằng nước ta có khoảng 14.000 tiến sĩ và 20.000 thạc sĩ. Theo một thống kê có lẽ chưa đầy đủ, nước ta có khoảng 6.000 người mang chức danh giáo sư và phó giáo sư. Đây là những người có khả năng nghiên cứu khoa học và công bố báo cáo khoa học. Nhưng qua con số bài báo khoa học vừa trình bày, chúng ta có thể nói rằng trung bình mỗi giáo sư và phó giáo sư nước ta công bố 0,58 bài báo trong vòng 10 năm qua! Nói cách khác, cứ hai giáo sư mới có 1 công bố quốc tế -- trong vòng 10 năm. Cũng cần nói thêm rằng ở các nước trong vùng như Thái Lan và Singapore, các đại học đặt ra tiêu chuẩn hay khuyến khích mỗi giáo sư cần công bố ít nhất 1 bài báo khoa học trong vòng 2 năm.
So sánh như thế chúng ta mới thấy chẳng những sản lượng khoa học nước ta quá thấp (thấp nhất trong vùng Đông Nam Á), mà còn có xu hướng giảm, và quan trọng hơn, năng suất khoa học của các giáo sư và nhà khoa học ở nước ta còn quá thấp.








0 nhận xét
Tất cả nhận xét đều bị kiểm duyệt ^^