Đến nay thì chúng ta biết ông Võ Văn Kiệt tạ thế vào ngày
Bây giờ ngồi tính sổ tôi mới biết ngày 11/6 là ngày tôi tôi bay về Việt
Trong thời gian tôi còn ở VN, tôi cũng đọc khá nhiều bài viết về ông VVK. Nhiều câu chuyện cảm động mà tôi từng nghe lúc còn ở trong nước vào thập niên 1980s được kể lại với nhiều tình tiết lí thú. Có lẽ nói không ngoa rằng tôi cũng là một người thầm ngưỡng mộ ông VVK. Tôi thích những cá tính mang dáng dấp
Bài viết sau đây tôi của Huy Đức đã đọc trên báo Sài Gòn Tiếp Thị lúc còn ở VN, nhưng tôi biết là không đầy đủ. Nay lên mạng thấy Huy Đức in trong trang blog của anh ấy nên tôi “chôm” về đây để các bạn đọc (sợ mai đây mốt nọ Huy Đức đổi ý và xóa bài này thì uổng lắm).
NVT
====Hiện Tượng Võ Văn Kiệt
Huy Đức
Chương I: KÝ ỨC THỜI GIAN
Một chiều cuối năm 2001, có hai người đàn ông tìm đến nhà ông Nguyễn Tấn Phát trên đường Bà Hạt, Quận 10: “Thưa, đây phải nhà chú Mười Đương?”. Nghe nhắc đến cái tên ít ai biết này của ông Phát, cả nhà lặng đi. Con gái út của ông, chị Hồng, không cần hỏi hai người lạ là ai, mở cửa mời vào. Út Khao, tên một trong hai người nói: “Cho anh gặp ba có chút việc”. Hai người hỏi chuyện với ông Phát một lúc rồi xin phép coi phía sau vai ông Phát. Khi thấy ở đó có một vết thẹo làm dấu, dài bằng đốt ngón tay, Út Khao và Hữu, người đàn ông đi cùng, đứng dậy, nói: “Thưa chú Mười, chúng con là người nhà chú Chín”.
Sáng hôm sau, nhiều người sống trên đường Bà Hạt, Quận Mười TP Hồ Chí Minh ngạc nhiên thấy Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt tới khu phố họ, vô thăm nhà một người đàn ông nghèo. Ông Kiệt chính là “Chú Chín”, 80 năm trước cùng bú chung một bầu sữa mẹ với ông Phát- tức Mười Đương, cái tên do ba mẹ ông Võ Văn Kiệt đặt cho. Niềm vui hội ngộ không thể nào kể xiết, ông Mười cứ luýnh quýnh, trong khi ông Kiệt ngồi xuống giường, thân thiết… Bằng lối nói như là đã ấm ức từ lâu lắm, ông Kiệt “mét” với hai người con gái ông Mười: “Bà Nội ngày xưa cưng ba mày hơn tao”.
Ông Mười Đương và ông Võ Văn Kiệt cùng sinh tháng 11 năm 1922, có hơn kém nhau ít ngày. Mẹ của Mười Đương là một phụ nữ xinh đẹp, con một nhà khá giả ở Trà Vinh, có bà con xa bên mẹ ông Kiệt. Bà lỡ có bầu với anh rể là một ông cử nhân- chuyện động trời vào thời đó ở những gia đình danh giá. Để giữ tiếng, trong thời gian mang thai, gia đình đưa bà đi gửi ở nhà một người bà con. Sanh xong, qua năn nỉ má ông Kiệt nuôi giùm đứa bé. Má ông Kiệt ráng nuôi vì cũng muốn giữ thể diện cho người trong giòng họ.
Ông Võ Văn Kiệt quê ở ấp Bình Phụng, một ấp nghèo thuộc xã Trung Lương huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long. Trong ấp lúc ấy, chỉ có vài hương chức có nhà ngói, dân làng phần lớn phải thuê đất, thuê ruộng. Cha ông, ông Phan Văn Dựa, cũng nghèo như số đông trong làng, từ đất ở, đất ruộng, đến trâu cày đều đi thuê hết. Tên khai sinh của ông Võ Văn Kiệt là Phan Văn Hoà, con út trong một gia đình có năm anh trai và hai chị gái. Gọi theo thứ bậc trong các gia đình Nam Bộ là Chín Hoà. Mẹ ông, bà Võ Thị Quế, phải nuôi hai đứa trẻ, do đó, bữa thì ông Kiệt bú mẹ, bữa phải đi bú nhờ.
Trong xóm, có một ông chú họ tên là Phan Văn Chi, Hai Chi, không con, không vợ, về gia cảnh thì còn nghèo hơn cả gia đình ông Dựa. Ông Hai Chi, phần thấy chị dâu mình vất vả, phần cũng lo nghĩ tới tuổi già, bèn sang xin Chín Hoà về nuôi. Ông bà Phan Văn Dựa bấm bụng đồng ý. Mỗi bữa Chín Hoà khát sữa, ông Hai Chi lại cõng lòng vòng khắp xóm, ai cho thì bú, người dân quê gọi là “bú thép”. Kể đến đây, ông Võ Văn Kiệt cười: “Có lẽ máu xã hội của tôi có từ đó”. Nhà ông già nuôi cũng ở cùng một ấp. Chín Hoà và Mười Đương vẫn qua lại chơi với nhau. Mỗi khi đi chợ, má ông vẫn mua quà cho cả hai đứa trẻ.
Theo như những gì mà bên nhà ông Kiệt biết thì khi Mười Đương khoảng sáu, bảy tuổi, bên nhà mẹ ruột sang xin lại. Nhưng vì ông bà Phan Văn Dựa đã “mến chân, mến tay”, không chịu cho. Sau đó, họ lân la sang chơi rồi đánh cắp đứa bé. Còn theo Mười Đương, thì câu chuyện phức tạp hơn nhiều. Lần đó, không phải cậu được đưa về nhà mà bị gia đình mẹ đẻ đưa lên tận Bến Tre, lưu lạc thêm mười mấy năm nữa. Mười Đương không bao giờ giải thích được sự zic zắc của câu chuyện đó, chỉ biết nó xảy ra sau khi mẹ cậu đi lấy chồng.
Theo ông Hai Mẹo, một người cháu gọi ông Kiệt là chú nhưng lớn tuổi hơn, thì sau năm 1975, mấy lần về quê, ông Võ Văn Kiệt đều có nhờ người tìm Mười Đương, nhưng không kết quả. Dù, việc tìm kiếm đó có đến tai ông Mười. Năm 1991, khi ông Kiệt trở thành Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, căn cứ vào những thông tin được công bố trong Tiểu sử, ông Mười biết “Võ Văn Kiệt chính là Chín Hoà”. Mấy người con ông Mười cũng có lần đã tính đi tìm “Bác Chín” nhưng rồi đắn đo. Chị Hồng nói: “Có lẽ nếu Bác không phải là Thủ tướng thì chúng tôi đã đi gặp Bác”.
Quãng thời gian Mười Đương ở trong nhà ông Võ Văn Kiệt là không dài, nhưng cũng rất đủ để hình thành tình mẫu tử. Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: Khi Mười Đương bị đưa đi rồi, má ông, cứ nhắc đến là khóc. Mỗi khi nhớ quá, má ông lại sang nhà ông Hai Chi xin đưa ông về ngủ với bà. Út Khao, Phan Văn Út, con người anh trai thứ Bảy của ông Kiệt, kể: Năm 1993, trước khi ông Bảy mất, có dặn: “Ngày xưa Nội làm một cái thẹo dấu ở phía sau cổ chú Mười”. Khi tìm được ông Mười, Út Khao thấy vết thẹo đúng như lời trăn trối đó. Cho đến tận sau này, ông Võ Văn Kiệt vẫn không sao hiểu được, bằng cách nào, linh tính của một bà mẹ có thể mách bảo, để mẹ ông tiên liệu được số phận long đong của đứa con nuôi, mà làm dấu để anh em ông có được cuộc hội ngộ này. Cuộc hội ngộ diễn ra đúng vào khi ông Võ Văn Kiệt dự định thôi giữ các chức vụ, khiến ông cảm thấy như là một sự tưởng thưởng của số phận. Ông hết sức nâng niu và lại một lần nữa chia sớt với Mười Đương những điều mình có, như ngày xưa, ông đã chia bầu sữa mẹ của mình. Sau khi “nghỉ theo chế độ”, ông về quê nhiều hơn, và chợt nhận ra, cái chợ Vũng Liêm “lớn tuổi hơn ông” giờ vẫn chỉ nhỏ như hồi trước. Đình làng xưa, nay vắng lặng, tiêu điều. Trên một chuyến đi về Vĩnh Long, ông nói: “Khi tại chức tôi chưa làm được gì cho quê hương, chỉ sau khi về nghỉ mới xoá đói giảm nghèo được cho ông Thành Hoàng”. Năm 2001, ông về quê, xin phép chính quyền, cùng với các vị bô lão, trùng tu lại đình làng.
Đình làng Bình Phụng, nơi lưu giữ những ký ức tuổi thơ của ông, nơi, với ông, có một vị trí tinh thần đặc biệt. Đến tận bây giờ, cho dù, trong suốt cuộc đời mình, ông đã đặt chân đến nhiều nơi trên Thế giới; cho dù ông đã từng có mặt trong những đêm diễn lớn, trong lòng ông dường như vẫn còn rộn lên, mỗi khi nhớ lại tiếng trống dập ngoài Đình. Ông kể: “Lâu lâu lại có gánh hát về xã, họ bắc đèn ngoài Đình và buổi chiều, khi họ nổi trống lên là bọn trẻ tụi tôi không còn thể nào nhấc nổi chén cơm lên nữa”. Những gánh hát về làng sau mùa gặt là hoạt động văn hoá thỉnh thoảng mới xảy ra và là món ăn tinh thần được mong mỏi nhất của những người dân quê ông. Những đêm hát tiều, hát bội, hát cải lương…, đã kéo già trẻ, trai gái đến Đình làng chật kín.
Từ năm lên sáu, lên bảy tuổi, vào mùa gặt, Chín Hoà thường theo cha nuôi lênh đênh đi gặt mướn cho các điền chủ dọc sông Tiền, sông Hậu. Công việc của cậu là giữ ghe hoặc “mót” lúa. Mỗi mùa như thế, Chín Hoà cũng kiếm thêm cho cha nuôi được vài giạ. Sông nước Miền Tây, khắp Cà Mau, Bạc Liêu… cậu rành từ hồi đó. Năm tám tuổi, cậu được đi học. Lớp học do những gia đình trung nông, địa chủ, sau ngày mùa, cất trại, rước thầy về dạy, dạy mùa, nên tiền học chỉ phải trả “rất nhẹ”. Ông Hai Mẹo, một trong hai người thầy “dạy mùa” của ông, kể: “Năm 1932, lấy được cái certificat, tôi về Đình, ông chú thấy tôi có chữ, kêu tôi dạy cho trẻ con lối xóm. Chín Hoà, thông minh và ăn nói lễ độ lắm. Nhưng dạy được hai năm thì tôi cũng hết chữ, rồi thôi”.
Mấy năm sau, Những người truyền giáo cho cất một trường học nhỏ dọc theo con đường đi qua ấp Bình Phụng. Ông Hai Chi thấy Chín Hoà khát chữ lại nhân có trường, ông nói: “Cho mày đi học tiếp”. Nhưng ở những lớp học này, các thầy chủ yếu tranh thủ truyền đạo. Thấy Chín Hoà “học đạo”, mấy ông nông dân nhậu mỗi khi có Chín Hoà ngồi cạnh lại hạch hỏi: “Đạo của mày thế nào?”. Chín Hoà kể chuyện Thiên đường, Địa ngục, và giải thích: “Người vô đạo hoặc có đạo mà làm điều ác sẽ xuống Địa ngục, còn người có đạo đến Thiên đàng”. Mấy ổng hỏi: “Vậy, nghĩa là mày sẽ lên Thiên đàng, còn tụi tao xuống Địa ngục phải hông?”. Chín Hoà hồn nhiên: “Dạ”. Mấy ổng cười, chọc: “Để khi nào tao chết, tao kêu vợ tao cho cái búa vô hòm, mày lên Thiên đàng thì thôi, đặng mày xuống địa ngục như mấy thằng nhậu tụi tao, tao cho mày biết”. Thật khó định lượng những gì Chín Hoà học được trong các trường làng. Nhưng, chính những lớp học đó đã giúp cậu đọc thông viết thạo, thắp cho cậu ngọn lửa hiểu biết, tạo nền tảng cho cậu tiếp tục con đường đi tìm tri thức trong suốt chặng đường hoạt động về sau.
Năm Chín Hoà 13 tuổi, ông Phan Văn Dựa thuê được hai con trâu, ông Dựa kêu Chín Hoà về chăn, coi thêm cả trâu cho hai ông anh ruột. Những việc khó như sửa chuồng dọn phân, ông Dựa làm cho con, phần Chín Hoà chỉ đưa trâu ra đồng. Tới vụ, ông Phan Văn Dựa lại
Cũng từ đám tang của mẹ, Chín Hoà gặp ông Hà Văn Út, rể của một người bà con cô cậu. Ông Út nói chuyện với mấy anh lớn, chuyện áp bức, chuyện bình đẳng… Ở làng không ai nói chuyện như thế. Chín Hoà nghe, cứ như nuốt từng lời. Ông Hà Văn Út thấy, lần sau về, tìm cậu. Chín Hoà lại nghe và lại càng thêm hứng thú. Sau vài lần gặp, Chín Hoà bắt đầu được giao việc, vừa kết hợp gặp các anh chị, vừa đưa tài liệu. Chín Hoà rất thích, có khi đi hai ba ngày. Thỉnh thoảng anh em còn kéo về nhà Chín Hoà cơm nước. Chín Hoà cũng không còn mấy thời gian giúp ông Hai Chi. Một lần, ông than thở: “Tao lớn tuổi rồi, chỉ nhờ mày đỡ đần, mày đi thế, tao không biết rồi sao”. Chín Hoà thương lắm, nhưng lại mê hoạt động không rứt ra được nên quyết định nói thật với ông Hai Chi. Ông nói: “Con đi với anh em là phải”. Chín Hoà thưa: “Chú cho con đi ở một mùa, đỡ đần chú. Phần còn lại con đi làm việc”. Ông chịu. Ông Hai Chi hiền lắm. Chín Hoà báo với “lãnh đạo”. Các anh cũng đã đến nhà, mấy lần thấy Chín Hoà đãi cơm, gạo phải đi mượn từng lon, khạp lúa thì trống trơn… biết hoàn cảnh Chín Hoà, mấy anh đồng ý. Những ngày hoạt động ấy, đã biến Chín Hoà trở thành một con người khác.
Ông Hai Mẹo nhớ lại sự thay đổi nhanh chóng này của Chín Hoà: “Mới mười mấy tuổi, chả họp dân, nói, ai cũng há hốc mồm nghe. Chả vận động đi cướp Chính quyền, người ta xách rựa đi hết”. Năm 1940, Quận uỷ Vũng Liêm chủ trương làm một cuộc mít-tin thật vang dội để bắt mạch phong trào chuẩn bị “khởi nghĩa”. Diễn giả chính trong cuộc mít-tin là chị Năm Hồng, Bí thư Quận uỷ. Năm đó, chị mới hai mươi tuổi, theo ký ức của ông Võ Văn Kiệt, chị Hồng là “một người tình cảm mà đầy bản lĩnh”. Chị Hồng nói về ruộng đất, nói về tương lai mỗi nông dân sẽ có được một mảnh ruộng của mình… Nghe, ai nấy đều vô cùng sung sướng. Ông Võ Văn Kiệt lúc đó, là Bí thư xã, được phân công học thuộc một bài do trên gửi xuống về “Thanh niên phản đế”. Khi nói đến “đánh đuổi đế quốc thực dân, đánh đổ phong kiến địa chủ, giành bình đẳng tự do…”,
Sau đó, cũng chính ông Võ Văn Kiệt là một trong những người chỉ huy cuộc dấy
Nhưng đêm ấy Sài Gòn không “Khởi nghĩa”, Vĩnh Long cũng không. Sau này, những người còn sống nghe nói: “Trung ương phân tích tình hình, ra lệnh ngừng cuộc khởi nghĩa”. Nhưng chính ông Quảng Trọng Hoàng, Bí thư Liên Tỉnh uỷ, cũng không biết, khi đó ông Hoàng đã tưởng, đêm ấy những người Cộng sản sẽ “cướp được chính quyền”. Ông Kiệt nhớ lại: Khi trời vừa hửng sáng, đã thấy xe từ Vĩnh Long chạy xuống, chở toàn lính! Hết xe này đến xe khác. Biết Vĩnh Long hỏng. Anh Hoàng nói: “Ta không đối phó nổi rồi”. Các nghĩa
Tối hôm đó về làng, mới biết, anh em đi đánh Bắc Nước Xoáy chỉ lẻ tẻ có đôi ba người về tới nơi. Số đông bị bắt, bị giết, trong đó có người anh thứ ba của ông Võ Văn Kiệt. Theo ông Kiệt, bà con hoang mang dữ lắm, nhiều người oán trách, nhất là sau khi Quận ra lệnh đốt hết ấp Bình Phụng vì những người bị bắt khai Bình Phụng là “ổ cộng sản dậy”. Các ấp mà Quận cho là “làm loạn” khác đều lần lượt bị đốt. Ông Kiệt thu mình ngồi suy nghĩ. Bà chị Dâu thứ ba than: “Mấy ông lớn tuổi đi nghe lời thằng con nít”. Nghe, mà ứa nước mắt. Trong khi đó, Quận tiếp tục truy tìm những người cộng sản. Lính Quận bắt anh trai ông Kiệt phải đi lùng bắt thằng em làm loạn. Một tối, ông Kiệt về nhà. Ba ông không nói gì, chỉ lặng lẽ mài đi mài lại một lưỡi mác; lặng lẽ liếc đám lông trên ống quyển, thử dao. Trước khi ông Kiệt đi, ba ông trao cho ông cây mác, nói: “Thằng anh mày nó sợ, nó doạ bắt mày. Mày cầm cái mác, đứa nào bắt thì cứ đâm cho tao”. Ông Phan Văn Dựa chỉ là một nông dân, không biết chữ, toàn bộ thái độ của ông về hành động theo cách mạng của con trai út, ông chỉ thể hiện như vậy. Ông Kiệt hiểu cha và hiểu tính khốc liệt của cuộc dấn thân này. Ít lâu sau, Chị Năm Hồng biết ông Kiệt còn, tìm cách nhắn ông vô Đìa Chảo tập hợp lực lượng lại. Anh em trao đổi với nhau, nhận định: “Thất bại là tạm thời”. Mấy người trẻ dứt khoát: Cách mạng chưa thành quyết không về xứ. Rồi Liên Tỉnh uỷ có chủ trương gom các cơ sở cũ vào rừng U Minh. Tỉnh uỷ cho người vô Đìa Chảo, đón nhóm ông Kiệt. Đầu năm 1942, giữa rừng U Minh, ông Kiệt cùng các đồng chí của mình nhận được tin Đảng đã thành lập Mặt Trận Việt Minh. Cũng tại đây, lần đầu tiên ông nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng của Mặt Trận, lần đầu tiên ông nghe cái tên Việt Bắc xa xôi.
Năm 1951, ông Võ Văn Kiệt ra Việt Bắc. Ông, lúc bấy giờ là Phó Bí thư Tỉnh uỷ Bạc Liêu, cùng Đoàn đại biểu Nam Bộ ra Bắc dự Đại hội Đảng lần thứ II, sau đó dự lớp “Hoa Nam” tại trường Nguyễn Ái Quốc III, khoá 6 tháng. Trường đóng tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên
Ông Kiệt lúc ấy không thể hiểu hết ý nghĩa lời nhận xét của ông Trường Chinh. Nhưng trước sau quan điểm về giai cấp của ông cũng bắt đầu từ những người địa chủ, trí thức mà ông biết: trí thức, địa chủ Nam Bộ. Những ngày đi ở đợ ông thấy, giàu hay nghèo thì cũng có người tốt, người xấu; người giàu cũng có người rộng rãi, người keo kiệt; tá điền cũng có người
Trong số những người Kháng chiến ở Nam Bộ, ông Kiệt biết, có những địa chủ rất giàu có như vợ chồng ông Bùi Thiện Lộc cũng đã ra Bưng theo Kháng chiến. Cựu Bí thư Bạc Liêu, ông Nguyễn Thành Nhơn cũng là một địa chủ. Năm 1950, khi ông Lê Đức Thọ, ông Lê Toàn Thư từ Xứ uỷ Nam Bộ xuống Tỉnh uỷ bàn với ông Kiệt về quyết định để ông Võ Văn Kiệt làm Bí thư thay ông Nhơn chỉ vì ông Nhơn là địa chủ, ông Kiệt đã không chịu. Ông Lê Đức Thọ nói: “Hoặc là cậu làm Bí thư, hoặc là cậu chịu kỷ luật?”. Ông Kiệt đã chọn nhận kỷ luật Đảng cảnh cáo, chứ không thể nào đồng ý với lý do kỷ luật ông Nhơn. Ông biết lúc đó, cả về học vấn lẫn khả năng lãnh đạo, ông Nhơn đều có nhiều mặt hơn mình. Trước khi theo kháng chiến, những nông dân như ông Kiệt chỉ có cái “quần đùi”. Khái niệm về Tổ quốc lúc đó của ông cũng hết sức đơn giản. Thời ấy, những người dân quê ông, thấy ai nói giọng Đàng Ngoài đều cho là “Đám người Huế”. Sau này, dự những cuộc họp của Uỷ Ban Kháng chiến Nam Bộ, nghe những bậc trí thức như Nguyễn Văn Hưởng, Ung Văn Khiêm, Phạm Ngọc Thuần…. nói, ông thấy có một khoảng cách rất rõ giữa mình và những bậc trí thức đó. Ông biết, nếu mình có gì hơn họ thì cũng chỉ hơn cái “cấp uỷ” chứ không thể hơn họ về lòng yêu nước, sự hiểu biết và khả năng thu hút quần chúng được. Trước khi gặp “Cách mạng” , ước mơ lớn nhất của ông là thoát khỏi đồng ruộng lam lũ, tù túng. Có lúc ông chỉ mong được làm anh lơ xe, được làm anh thợ cắt tóc. Ông “có ý kiến” với mấy thầy trợ giảng ở lớp Hoa
Một trong những thầy trợ giảng của lớp chỉnh huấn về từ Hoa Nam, giáo sư Đào nguyên Cát, hiện là Tổng Biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam, nhớ lại: Tôi được phân công giúp anh Kiệt tìm “Tư tưởng Chủ đạo”. Theo những gì tôi được học ở lớp “Chỉnh Phong” bên Trung Quốc thì vào Đảng, phải giác ngộ lập trường giai cấp công nhân. Do đó, mỗi người, phải tìm xem “lập trường cũ” của mình là gì để mà từ bỏ. Khẩu hiệu viết trên tấm băng đen của lớp chỉnh huấn nhấn mạnh: Thành khẩn bộc lộ khuyết điểm của mình là thước đo độ trung thành với Đảng. Kết quả, anh Kiệt “thành khẩn” nhận: Khi vào Đảng anh mới chỉ vì để “giải phóng dân tộc” chứ chưa phải vì “giai cấp”, cũng có lúc anh “dao động”; “Nhận thức không rõ ràng về tội ác của địa chủ” là một ví dụ. Nên tôi kết luận: Tư tưởng Chủ đạo của anh Kiệt là “Tiểu tư sản” dù anh là con của một người bần nông. Những màn “đấu tố”, “căm thù địa chủ” được diễn tập ở lớp Hoa Nam làm ông Kiệt nhớ lại hồi ở nhà học võ, nhớ chuyện “Tổ nhập”.
Hồi ấy, có những ông thầy dạy võ về ấp Bình Phụng và các làng lân cận mở lò. Đêm đêm, Chín Hoà thường ra các lò võ học lóm. Mấy ông thầy thấy, hỏi: “Mày thích à?”. Chín Hoà không chần chừ: “Dạ, ham lắm”. Mấy ông bảo: “Vậy mày thử đi”. Chín Hoà thử và các ông thầy thấy cậu múa võ còn hay hơn cả học trò của mấy ổng thế là cho Chín Hoà vô học. Cùng dạy võ có mấy ông thầy dạy bùa. Họ nói: Có bùa, “Tà bổn thân” thoát ra, “Tổ nhập” thì bị đòn không đau nữa. Chín Hoà thích lắm, ra sức học gồng, học “vô Tổ”. Nhưng không hiểu sao, nhiều bạn võ tuyên bố đã được “Tổ nhập”, mà Chín Hoà luyện riết, “Tổ” vẫn không vào. Cuối cùng, mấy ông thầy bùa nói: “Tà bổn thân mày nặng quá, giờ chỉ còn cách ăn bóng đèn mới mong giải được”. Nghĩ tới việc cho cái bóng đèn vô miệng, ớn tới xương sống, nhưng Chín Hoà, phần vì muốn thành tài, phần vì muốn theo đến cùng để biết sự thật, nên bằng lòng. Ông thầy lấy bóng đèn, đặt trên một cái đĩa, đưa ra trước mặt, Chín Hoà hơi run, bảo: “Nếu thầy cắn bể được cái bóng đèn, thì con làm”. Ông thầy cắn cái bóng đèn bể ra rồi ngồi đọc thần chú trong khi Chín Hoà cho hết vô mồm nhai. Đêm về, Hoà kể lại cho mẹ nghe, bà già sợ con lủng ruột, khóc ầm lên. Những mảnh thuỷ tinh trong bụng Chín Hoà, sau đó không hề gây hại gì, còn “Tổ” thì không biết có nhập không mà mỗi khi bị đánh, cậu vẫn còn thấy đau lắm. Sau này, Chín Hoà hỏi, đám bạn được “Tổ nhập” thú nhận, thực ra họ cũng chỉ “gồng” lên. Ở lớp tập huấn Việt Bắc, những người tập đấu tố cũng vậy, họ cũng thấy những địa chủ như Mười Phái và thực ra họ cũng phải “gồng” lên như mấy anh bạn “Tổ nhập” trong lớp học võ của Chín Hoà. Sau lớp học ở Việt Bắc, Trung ương có ý định đưa ông Võ Văn Kiệt đi đào tạo ở Trung Quốc, nhưng lấy lý do vừa phạm khuyết điểm về quan hệ trong thời gian ra Bắc, ông Kiệt xin trở lại Miền Nam.
Năm 1952, ông Võ Văn Kiệt lại đi bộ trở lại Miền
Sáng, ông Kiệt ra giúp bà chủ nhà nhổ lông vịt làm cơm, bà hỏi: “Có phải ông Duẩn?”. Ông Kiệt giựt mình nhưng phản ứng mau lẹ: “Đâu có, ổng đi hồi hôm rồi”. Bà dứt khoát: “Ông Duẩn! Cậu không tin, tôi lấy hình cho coi”. Nói rồi bà lên trang thờ lấy hình ông Duẩn xuống. Ông Kiệt thấy khó lòng chối mãi, bèn dặn: “Thì ông này giống ông Duẩn nhưng chị không được nói với bất cứ ai nhé”. Buổi sáng hôm ấy ông Kiệt cứ phân vân, nhưng rồi ông quyết định phải thú thật với “Anh Ba”. Ông kêu ông Duẩn ra vườn, nói: “Bà già phát hiện ra anh”. Ông hỏi: “Ai nói?”. “Không, bà còn giữ hình anh trên trang”. Ông Duẩn lắc đầu: “Lại Trần Bạch Đằng!”. Hồi đó, ông Trần Bạch Đằng làm thông tin, cho chụp hình ông Lê Duẩn rồi cơ quan nào cũng treo. Ông Kiệt giải thích: “Nhưng bà già có ý thức lắm, anh cứ yên tâm”. Ông Duẩn suy nghĩ rất căng rồi nói: “Chỉ cần bả mừng, bả nói với con bả là đủ lộ”. Rồi ông lệnh: “Chuẩn bị, tối đi”.
Đó là những ngày cực kỳ căng thẳng của “Cách mạng Miền
Từ Campuchia ông Kiệt về Tây Ninh rồi lần mò tiếp cận với Sài Gòn. Hầu hết những cơ sở cũ mà ông nhận “bàn giao” đều vỡ hết. Nhiều Khu uỷ viên vừa nối được liên lạc đã bị bắt. Ông Kiệt quyết định xây dựng hoàn toàn cơ sở mới, ra lệnh không được móc nối với cơ sở cũ, phòng địch để lại cài bẫy. Cũng trong giai đoạn này, ông đưa ra một đề nghị được Xứ uỷ chấp nhận: lấy Gia Định làm bàn đạp thâm nhập Sài Gòn- Chợ Lớn, thành lập Khu uỷ Sài Gòn- Gia Định. Sài Gòn- Gia Định từ sự liên kết có ý nghĩa kháng chiến đó, sau trở thành một khu vực hành chính chung. Trong suốt những năm 1959-1970, Ông Võ Văn Kiệt lúc thì nằm dưới địa đạo Củ Chi, lúc vào hẳn trong Thành phố, vừa xây dựng các phong trào đấu tranh ở Nội Thành, vừa xây dựng lực lượng vũ trang chiến đấu Vùng ven Đô. Ông Lê Đức Anh nhớ về giai đoạn này của ông Kiệt: Năm 1963, ông Lê Đức Anh được cử vào Nam, về Bộ Chỉ huy Miền, sau khi ông báo cáo với Trung ương Cục ý kiến chỉ đạo, mà cho tới hôm nay, ông Anh vẫn chú ý nhấn mạnh là “Ý kiến của anh Lê Duẩn và anh Văn Tiến Dũng”, theo đó: Phải xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang cả trong đô thị và vùng ven, Tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Miền nói: “Vấn đề đô thị phải mời anh Sáu Kiệt”. Ông Kiệt khi đó đang ở Củ Chi, được mời
Năm 1970, ông Kiệt được điều trở lại Miền Tây, làm Bí thứ Khu uỷ Khu IX. Tình thế chiến trường Miền
Nhưng, ông Võ Văn Kiệt không quá lo lắng về tình hình đã qua. Miền Tây là “đất” của ông. Ông sẽ đường hoàng đến Khu IX bằng con đường bất ngờ nhất. Ông xuống Châu Đốc theo đường bí mật và lệnh cho chị Sáu Trung, giao liên công khai lên Sài Gòn kêu Sáu Hoa mang xe xuống. Từ Châu Đốc, ông ngồi trên chiếc xe du lịch của ông Sáu Hoa, cơ sở của ông ở Sài Gòn, về Rạch Giá, ông ở chơi nhà bà con bên vợ mấy ngày trước tai mắt của chính quyền Sài Gòn rồi mới ra Bưng. Theo nguyên tắc, mỗi lần di chuyển địa bàn hoạt động, những người lãnh đạo như ông lại chọn một tên mới. Trên đường đi, ông có cảm giác, mọi việc có vẻ thuận, ông tin tình hình rồi sẽ tốt lên, vì thế ông lấy bí danh mới cho mình là Tám Thuận. Đại tá Lê Đức Anh cũng đã được điều về làm Tư Lệnh Khu IX trong dịp đó. Trước khi đi, Đại tá lấy bí danh mới là Chín Hoà. Khu IX dưới sự lãnh đạo của ông, sau đó nhanh chóng khôi phục sức chiến đấu, và đến Hiệp định
Sau Hiệp định Paris năm 1973, tình hình chiến sự Miền Nam được Thượng tướng Trần Văn Trà mô tả trong cuốn Hồi ký Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm: “Ở các Chiến trường khác ta bị lấn mất đất, mất dân rất nhiều, riêng ở Quân khu IX, Quân khu Miền Tây Nam Bộ, nơi lúc bấy giờ, địch tập trung quân đông nhất, ta vẫn giữ được các vùng của ta. Sở dĩ được như vậy vì Khu uỷ Khu IX lúc ấy do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư đã thống nhất với Bộ Tư lệnh Quân Khu do đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh, nhận định rằng kẻ địch không bao giờ chịu thi hành Hiệp định, chiến tranh vẫn là chiến tranh, mọi hoạt động vẫn như cũ không có gì thay đổi cả”. Nhưng cũng theo Tướng Trà: “Éo le thay hành động cụ thể ấy[của Khu IX] lại ngược hẳn với một loạt chủ trương lúc ấy”. Chủ trương lúc ấy về Thi hành Hiệp định Paris được thể hiện trong Nghị Quyết 21 của Bộ Chính trị và được Tố Hữu vào tận Miền Nam phổ biến là: “Hoà hợp dân tộc và thi đua hoà bình” đồng thời coi “đấu tranh chính trị là chủ yếu”, tranh thủ thời cơ “gò cương vỗ béo” lực lượng vũ trang. Từ tinh thần Nghị quyết mà ông Tố Hữu phổ biến đó, Hội nghị Binh vận Miền tháng 4-1973 triển khai “năm cấm chỉ”: Cấm tấn công địch; cấm đánh địch đi càn quét; cấm bắn pháo vào đồn địch; cấm bao vây đồn bót; cấm xây dựng ấp xã chiến đấu. Ông Kiệt và Thường vụ Khu uỷ ra lệnh Binh vận Khu không phổ biến chủ trương này của Binh vận Miền.
Thực tế luôn luôn đưa lại cho ông Võ Văn Kiệt những cảm nhận chính xác và ông đã cùng với Thường vụ và Đại tá Lê Đức Anh đưa ra “Kế hoạch Thời cơ”
Ngày 3-3-1973, Quân đội Sài Gòn dùng 30 tiểu đoàn đánh vào Chương Thiện, dự kiến trong 7 ngày sẽ chiếm xong các mục tiêu, bịt cửa ngõ U Minh. Nhưng các mũi tiến công đều bị chặn đứng, Khu IX,
Sau ngày 30-4-1975, từ một nhà lãnh đạo kháng chiến xuất sắc, ông Võ Văn Kiệt, lúc bấy giờ 53 tuổi, trở thành người đứng đầu chính quyền dân sự của Thành phố Sài Gòn. Ông sẽ phải bắt đầu ở đây nhiều công việc mà ông chưa từng được biết đến. Ông đã từng là một người hăng hái áp dụng những chuẩn mực của thời “Cả Nước đi lên Chủ nghĩa xã hội”. Để rồi, bằng sự mẫn cảm chính trị của một Võ Văn Kiệt luôn có mặt ở nơi cuộc sống thực tế đang diễn ra, ông nhận ra những rào cản của cơ chế. Ông trở thành chỗ dựa cho các doanh nghiệp “xé rào”, vượt qua cơ chế quan liêu bao cấp.
Cơ chế được coi như là nguyên nhân chính làm cho nền kinh tế Việt
Khi trở về Thành phố sau 30-4, ông Kiệt mang theo một vốn liếng chính trị đầy ấn tượng, nhưng ông đã không chỉ sử dụng số vốn đó. Trong môi trường mới ông đã tận dụng nhiều cơ hội để tri thức, để tự hoàn thiện mình. Tháng 12-1981, ông được điều ra Hà Nội làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ Nhiệm Uỷ ban Kế Hoạch. Năm đó, ông đã 59 tuổi, thế nhưng theo ông Việt Phương, một “sỹ phu” có tiếng của “Bắc Hà”, người nhiều năm làm Trợ lý cho Thủ ttướng Phạm Văn Đồng và sau đó là Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Khi đó sức bật của ông vẫn mạnh. Ông làm Kế hoạch chỉ sau một thời gian, anh em trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa rất chịu”.
Mười năm sau khi ra Hà Nội, năm 1991, ông Võ Văn Kiệt trở thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, người đứng đầu Chính phủ theo cách gọi của Hiến Pháp 1980. Đường hướng phát triển kinh tế lúc đó vẫn đang còn phải mò mẫm. Tốc độ tăng trưởng rất thấp, lạm phát vẫn còn ở mức 67%. Cũng năm đó, Liên Xô tan rã, nguồn ngân sách mất 1/3 từ viện trợ của Liên Xô và các nước Đông Âu cũ; thị trường truyền thống mất. Thật khó đánh giá sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ lúc đó là một bi kịch hay thời cơ. Khối SEP tan rã; nước XHCN Trung Quốc khi đó vẫn chưa bình thường hoá quan hệ với Việt
Quả thực, ông Võ Văn Kiệt đã để lại nhiều dấu ấn trên khắp miền đất nước. Những dấu ấn có thể từ những công trình lớn mà ông đã quyết định đầu tư; từ những phong trào mà ông đã khởi xướng; và đặc biệt, từ những “nguồn cảm hứng phát triển” mà ông đã khơi dậy, gieo mầm. Ông Võ Văn Kiệt nói: “Có thể vì tôi làm Thủ tướng vào một thời điểm mà đất nước ở trong một tình thế buộc Chính phủ phải nhanh chóng hành động; tình hình Thế Giới cho phép Việt Nam tiếp cận rộng rãi với cộng đồng Quốc tế hơn”. Nếu chỉ xét những gì đạt được trong Thập niên 90, Việt
Khi đang còn đương chức ông Kiệt hay nói với một người bạn già ở Hà Nội, đại tá Trần Tấn Nghĩa: “Tao thèm được như mày, lâu lâu ra đầu phố ăn tô phở, uống chén chè, nói dóc quá”. Đại tá Trần Tấn Nghĩa là người phá vụ án “Số 7 Ôn Như Hầu” hồi năm 1945 và là người hùng trong vụ “Hoạt động phỉ và phản loạn ở Đồng Văn” hồi năm 1960. Ông Nghĩa từng làm Quận trưởng Công an Đặc biệt, bảo vệ An Toàn Khu[ATK] hồi ông Kiệt ra Việt Bắc, rồi cùng dự Đại hội Đảng lần thứ II, cùng học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc III với ông. Thỉnh thoảng, khi cần nghe những lời nói thật, ông lại gọi Đại tá Nghĩa tới, hỏi: “Ngoài Phố họ nói tao thế nào, mày?”. Ông Kiệt cũng chỉ mới gặp lại Đại tá Nghĩa vào một ngày cuối năm 1991.
Hôm đó, Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng mới nhận chức Võ Văn Kiệt đang chuẩn bị đi đón một vị khách quốc tế thì bảo vệ đưa cho ông một lá thư. Mở ra đọc, ông thấy cái giọng thư không lẫn vào đâu được: “Tao biết mày ở đây. Người xưa nói, ‘giàu đổi bạn, sang đổi vợ’. Không biết mày có thế không. Tao về hưu rồi, không tìm mày để nhờ vả, kiếm chác gì nữa. Tao già, người già thích gặp bạn cũ, thế thôi. Mày biết tao ‘Giang hồ quen thói vẫy vùng’ rồi”. Ký tên: Nghĩa, Trần Tấn Nghĩa. Kèm theo lá thư là một tấm hình nhỏ, chụp một ông Kiệt thời trẻ, trong bộ quân phục “Bát Lộ Quân”. Phía sau tấm ảnh ghi nắn nót: “Mến tặng Nghĩa để kỷ niệm những ngày học tập ở Trường Đảng và cũng là những ngày không thể quên nhau. VB[Việt Bắc] ngày
Cuối năm 2001, ông Kiệt làm đơn trả lại ngôi biệt thự công vụ trên phố Phan Đình Phùng, Hà Nội. Nơi ông đã ở đó từ những năm 80. Ông bàn với vợ, bà Phan Lương Cầm, về sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi gia đình người con gái của ông, Võ Hiếu Dân và gia đình người con trai của ông, Phan Thanh Nam, đang sống và làm việc. Nơi, trong thẳm sâu của ký ức, có một hình ảnh mãi mãi không phai về người vợ yêu dấu Trần Kim Anh đã từng chung thuỷ chờ đợi ông, đã từng tần tảo nuôi các con, và đã hy sinh cùng với hai đứa con nhỏ năm 1966, trên đường lên căn cứ Khu uỷ thăm chồng.
Rời ngôi biệt thự công vụ trên phố Phan Đình Phùng, Hà Nội, ông nhận ra là mình sẽ để lại một khoảng trống nho nhỏ nơi anh lái xe, anh bảo vệ, chị bếp… những người “làm nhiệm vụ Nhà nước”, nhưng cuộc đời đã mấy chục năm gắn bó với ông. Ông thu xếp để họ được bố trí một công việc mới, ổn định. Ông về quê những sỹ quan cận vệ, những người đã đi với ông hàng chục năm, cảm ơn những “gia đình đã sinh ra họ, những người con tận tuỵ với ông, với công việc”. Theo Bác sỹ Đinh Trần Nhưng, bác sỹ riêng của ông: Ông sống với nhóm phục vụ như với những người trong gia đình. Ông chia sẻ mọi thứ với họ, trừ… “chức vụ”. Từ khi làm Bí thư Khu uỷ Kháng chiến cho tới ngày làm Thủ tướng, chưa có ai trong “gánh phục vụ” được ông “đẩy lên cao”. Nhưng họ, cho đến bây giờ, vẫn như những “người nhà chú Sáu”, vẫn tự hào vì đã từng được làm việc, chiến đấu bên ông. Họ giờ đây cũng là một mối quan tâm của ông khi trở lại Sài Gòn.
Lần đầu tiên ông Võ Văn Kiệt lên Sài Gòn là năm 1940, sau Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Lần đó, khi người chỉ huy của ông, Bí thư Liên Khu uỷ Quảng Trọng Hoàng nói với những đồng đội sống sót: “Thôi tụi bây về nhà”. Trong những ngày chưa bắt được liên lạc với Tổ chức, ông Kiệt theo ghe cá lên Bến Bình Đông, Sài Gòn, rồi từ đó theo những người bán cá lên Thủ Dầu Một. Lần thứ hai, vào khoảng năm 1956, lúc ông Kiệt đang là Xứ uỷ viên kiêm Phó Bí thư Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang, ông được Xứ uỷ gọi lên Sài Gòn làm việc. Thay mặt Xứ uỷ, ông Lê Toàn Thư và ông Nguyễn Văn Linh[Mười Cúc] tiếp ông. Làm việc xong, ông Mười Cúc giao nhiệm vụ cho người phụ trách giao liên của Xứ uỷ chở ông Kiệt bằng xe Honda đi tham quan Thành phố. Đó là lần đầu tiên ông xuống đến Bến Bạch Đằng, ra Ngã Tư Hàng Xanh, vào Trung tâm Thành phố… Hôm đó, lần đầu tiên trong đời, ông Kiệt được ăn món thịt bê non thui còn tươi rói, chấm với nước tương gừng dậy mùi ở phố thợ mộc, nơi cư ngụ của những bà con người Bắc. Món bê thui do ông Nguyễn Văn Linh, người 30 năm sau đó trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt nam, đãi. Mấy năm sau, ông Kiệt được điều về làm Bí thư Khu uỷ Sài Gòn thay ông Mười Cúc. Từ Củ Chi, ông đi thẳng vô Thành bằng một chuyến xe du lịch sang trọng, do ông Sáu Hoa lái, chạy theo đường công khai. Lần đó, ông Kiệt ở lại Sài Gòn ba tháng, đóng vai thơ ký cho nhà thầu khoán Sáu Hoa. Ngày 30-4-1975 ông có mặt ở Sài Gòn, và sau đó, trở thành người lãnh đạo cao nhất của một Thành Phố, kể từ đó, mang tên Hồ Chí Minh; một thành phố, kể từ đó lưu lại không ít dấu ấn Võ Văn Kiệt; một thành phố, kể từ đó, trải qua những năm tháng đầy biến động, được ghi sâu trong ký ức của mỗi con người.
===
"Anh Sáu Dân"
Sáng 24-5, Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhập viện để rồi đi mãi. Buổi làm việc chiều 23- 5, giờ đây, đã là “buổi làm việc cuối cùng” của ông. Hôm ấy, trong cơn mưa không dứt, ông say sưa nói về vai trò của người trí thức trước những vấn đề của đất nước. Những ai đã từng biết đến Võ Văn Kiệt, người chứng kiến một đội ngũ trí thức trước năm 1975 hăm hở ở lại Sài Gòn để rồi, sau đó, lặng lẽ rời bỏ Sài Gòn. Mới hiểu, vì sao ông có thể để lại dấu ấn sâu đậm và được các bậc trí thức quý trọng.
“Để Tôi Đưa Anh Đi, Đừng Vượt Biên Nguy Hiểm”
Năm 80, trong khi GS Chu Phạm Ngọc Sơn đang đi công tác ở Liên Xô, một người con của ông “vượt biên” không thành. Phải sống ở Sài Gòn thời ấy mới cảm nhận được sự dữ dội của hai từ ấy, “vượt biên”. Trở lại Sài Gòn, ông Kiệt nói với giáo sư Sơn: “Để cháu đi như vậy, có gì, tôi với anh có tội”. Vợ GS Chu Phạm Ngọc Sơn là một dược sỹ, đang làm ở một bệnh viện lớn, “giải phóng” vô, bà được xếp vào thành phần “bóc lột”, bị thay thế bởi một người yếu kém về chuyên môn. Con gái ông, sau này trở thành một bác sỹ giỏi ở Mỹ, những năm ấy, thi vô dự bị y khoa không đậu. Cho dù ông vẫn quyết tâm gắn bó với chế độ mới, lòng tin của vợ con ông vơi dần.
Biết chuyện, Ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện với gia đình giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn, nhưng ông nhận ra mình bất lực. Ông Kiệt nói với giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó, có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này, nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.
Cũng trong những năm ấy, ông Kiệt cho gọi Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu lên, dặn: “Anh nghe ngóng, anh em trí thức lỡ ‘đi’, nếu có bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Ông Huỳnh Kim Báu nhớ lại: “Một lần, nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam kỹ sư Dương Tấn Tước về tội ‘vượt biên’, ông Kiệt cấp giấy cho tôi, ra Bình Thuận ‘di án’ về TP HCM thụ lý”. Ông Báu kể, khi bước vô trại giam, anh Tước thấy tôi, mừng quá định kêu lên, tôi phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: “Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.
Đích thân ông Kiệt nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức. Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thân cận thời đó của ông, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Một trong những trí thức mà ông Kiệt rất quý trọng là kỹ sư ngành dệt Phạm Văn Hai. Khi ông Hai vượt biên bị bắt, ông Kiệt vào trại giam, nói: “Khi nào không ở lại được nữa hãy nói với tôi, anh đừng đi như thế, nguy hiểm lắm”.
“Nước Đâu Phải Là Chuyện Của Trí Thức”
Ông Võ Văn Kiệt nhiều lần tâm sự, ông hiểu, phần lớn những trí thức chọn ở lại sau ngày 30-4 không phải vì họ bị “kẹt”. Ông biết nhiều người có trong tay cả một chiếc máy bay đã cất cánh nhưng không thể nào rời bỏ Việt
Ông Đặng Anh Võ, một chuyên gia trong ngành viễn thông, do từng phục vụ trong quân đội, sau 1975, phải đi “học tập” một thời gian. Cũng như nhiều trí thức lúc đó, ông Võ phải làm đủ nghề để kiếm sống. Ông, một người lãnh lương gần 4 cây vàng/tháng hồi trước 1975, kể lại cuộc sống về sau trong tập sách “Những Trang Đời” do Hội Nghiên cứu Dịch thuật xuất bản: 16:30 tan sở; 17:00 đến Trung tâm ngoại ngữ; 21:00 về, ăn qua loa rồi phụ vợ gọt thơm, gọt ổi để sáng còn kịp đi bỏ mối. Nhiều hôm, 21:00 dạy ra, bánh xe bị xẹp, phải dắt bộ 9 km về nhà tự vá để tiết kiệm 3 đồng! Nhưng, sự khốn khó của cuộc sống không phải là tất cả.
Ông Huỳnh Kim Báu kể, năm 1978, khi có nhiều trí thức bỏ nước ra đi, ông Võ Văn Kiệt đã gặp gỡ trí thức Thành phố, kêu gọi họ ở lại. Ông nói: “Anh em cố gắng ở lại, trong vòng 3 năm nữa, nếu tình hình vẫn không thay đổi, tôi sẽ đưa anh em ra phi trường”. Lúc đó, GS Nguyễn Trọng Văn đứng lên trả lời ông: “Chúng tôi sẵn sàng ở lại, nhưng nếu 3 năm năm nữa mà tình hình không thay đổi thì tôi cho rằng người ra đi không phải là chúng tôi”. Câu nói của GS Nguyễn Trọng Văn gây rúng động. Tối hôm ấy tại văn phòng Thành ủy có một cuộc họp, Huỳnh Kim Báu được mời dự. Các ý kiến phê phán GS Văn hết sức gay gắt, có người đề nghị: “bắt”. Ông Báu kể, Sáu Dân làm thinh, nhưng cặp mắt đăm chiêu. Cuối cùng, ông nói: “Sau khi nghe anh Văn nói, tôi cũng bị sốc, rất sốc. Nhưng rồi suy nghĩ, tôi thấy, anh Văn đã phát biểu rất nghiêm túc. Tôi cho rằng, nếu 3 năm nữa mà tình hình không thay đổi thì rõ ràng người ra đi không thể là các anh ấy”. Kết luận của “Sáu Dân” khiến cho mọi người im lặng và nhờ kết luận đó, GS Nguyễn Trọng Văn đã không bị bắt.
Năm 1977, một lần, hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Bửu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?” Ông Phạm Bửu Tâm là một nhà giáo dục rất được kính trọng. Ông Tâm cũng rất quý ông Kiệt nhưng có lẽ là đã dồn nén lâu lắm, ông đứng dậy, nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.
Những câu nói như vậy không làm cho ông Võ Văn Kiệt, lúc đó đang nắm “quyền sinh quyền sát” tại Thành phố, để bụng. Ông nhận thấy ở đấy sự đau đớn của giới trí thức. Ông biết, những người như kỹ sư Phạm Văn Hai không chỉ tiếc những tài sản bị “cải tạo”, mà còn không chịu được khi nhìn những nhà máy, khi “rơi vào tay cộng sản”, bị quản lý cẩu thả, chất lượng sản phẩm xuống cấp. Những người như GS Châu Tâm Luân, Dương Kích Nhưỡng thì xót xa về một vấn đề khác lớn hơn. Ông Kiệt kể: Anh Dương Kích Nhưỡng nói với tôi, “Ý của các anh rất tốt nhưng các anh không làm được”. Tôi hỏi vì sao, anh Nhưỡng nói, “Đất nước phải được quản lý theo luật chứ không thể theo tinh thần nghị quyết”. Cho tới hàng chục năm sau, khi nhớ lại thời điểm này, ông Kiệt nói: “Đau lắm, để họ ra đi là đau lắm! Nhưng, mình biết, cái cách của mình lúc ấy không thể nào giữ được họ”.
Khát Khao Tri Thức
Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Ông Võ Văn Kiệt chưa bao giờ được đến trường một cách chính thức. Từ năm lên sáu, lên bảy tuổi, ông Kiệt, khi ấy có tên là Phan Văn Hòa, Chín Hòa, thường theo cha nuôi lênh đênh đi gặt mướn cho các điền chủ dọc sông Tiền, sông Hậu. Công việc của Chín Hòa là giữ ghe hoặc “mót” lúa. Năm tám tuổi, Chín Hòa mới được đi học. Lớp học do những gia đình trung nông, địa chủ, sau ngày mùa, cất trại, rước thầy về dạy, nên tiền học chỉ phải trả “rất nhẹ”. Ông Hai Mẹo, một trong hai người thầy “dạy mùa” của Chín Hòa, kể: “Năm 1932, lấy được cái certificat, tôi về Đình, ông chú thấy tôi có chữ, kêu tôi dạy cho trẻ con lối xóm. Chín Hoà, thông minh và ăn nói lễ độ lắm. Nhưng dạy được hai năm thì tôi cũng hết chữ, rồi thôi”. Lớp học thứ hai của ông là do những người truyền giáo tới ấp Bình Phụng, quê ông, mở. Ông học ở ngôi trường này khoảng một năm. Tuy nhiên con đường tìm kiếm tri thức của ông Võ Văn Kiệt không dừng lại ở đấy.
Khi tham gia cách mạng, được dự những cuộc họp của Uỷ Ban Kháng chiến Nam Bộ, nghe những bậc trí thức như Nguyễn Văn Hưởng, Ung Văn Khiêm, Phạm Ngọc Thuần…. nói, ông Võ Văn Kiệt thấy có một khoảng cách rất rõ giữa mình và những bậc trí thức đó. Ngay từ trong kháng chiến ông đã miệt mài đọc sách và học hỏi từ những bậc trí thức, cho dù có nhiều người chỉ là cấp dưới của ông.
Sau ngày
Năm 1989, khi ông đang là Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng, được giao chủ trì công tác cải cách hệ thống ngân hàng, ông Kiệt đã thiết lập một nhóm chuyên gia bao gồm cả những người đã từng hoạt động trong hệ thống ngân hàng Sài Gòn. Hai “tác giả” chính của Pháp lệnh Ngân hàng thời đó chính là hai chuyên gia được ông mời từ Sài Gòn ra: ông Huỳnh Bửu Sơn và ông Lâm Võ Hoàng.
Năm 1990, khi đại diện Việt
Sự Trân Trọng Chân Thành
Tiến sỹ Nguyễn Văn Hảo kể, cách đối xử của ông Võ Văn Kiệt gần như khác hẳn với nhiều nhà lãnh đạo Thành phố lúc đó. Ông nhớ, những năm sau 1975, ông ở lại nhưng rồi không được sử dụng, đôi khi cả ngày không có việc gì làm. Nhưng, khi nghe một vị lãnh đạo điện thoại bảo: “8 giờ sáng nay mời anh lên tôi gặp”, ông đã trả lời: “8 giờ tôi bận”. Ông Kiệt không bao giờ cư xử như vậy. Cho dù đang ở vị trí đầy quyền lực và lớn tuổi hơn, khi nào ông Kiệt cũng gọi tiến sỹ Nguyễn Văn Hảo bằng “ông”. Những khi muốn gặp ông thường trực tiếp nói chuyện điện thoại và bao giờ cũng hỏi trước: “ông tiến sỹ rảnh vào lúc nào?”
Một lần, ông Kiệt mời kiến trúc sư Ngô Viết Thụ cùng ông đi Angierie. Trên chuyến bay của hãng hàng không Air France, ông được xếp ở khoang hạng nhất còn KTS Ngô Viết Thụ, do sơ suất chỉ được mua vé ngồi ở phía sau. Ông muốn mời KTS Ngô Viết Thụ lên ngồi cùng nhưng không được. Ông “xin” phi hành đoàn cho được xuống hạng economy để ngồi với ông Thụ, thế là phi hành đoàn đã đồng ý để ông mời KTS Ngô Viết Thụ lên. Trong một chuyến đi khác cùng với KTS Ngô Viết Thụ ra Hạ Long, khi ông Thụ xúc động trước cảnh đẹp thần tiên, đích thân ông Kiệt đã lấy giấy và tự tay mài mực cho ông Ngô Viết Thụ vẽ.
Là một nhà lãnh đạo hết sức quyết đoán nhưng đồng thời, ông Võ Văn Kiệt cũng là người hết sức thận trọng, ông thường lắng nghe rất nhiều ý kiến khác nhau trước khi ban hành các quyết định của mình. Ông nói: “Kinh nghiệm của một nhà lãnh đạo là phải nghe rất kỹ ý kiến chuyên gia và đặc biệt, đã nghe chuyên gia thì phải nghe trực tiếp chứ không bao giờ nên nghe thông qua những người giúp việc”.
Cho đến những năm cuối đời, ông vẫn đọc rất nhiều, đọc cả những ý kiến chỉ trích ông gay gắt. Nhiều lần ông dặn những người giúp việc, nếu như những người chỉ trích ông về nước, hãy mời họ tới gặp ông. Ông trân trọng và muốn trao đổi sâu thêm về những khác biệt, với họ.
Bằng sự trân trọng tri thức và các bậc trí thức một cách chân thành. Ông tìm thấy ở họ, không ngừng, những điều mới mẻ. Và đặc biệt ông kiến tạo được rất nhiều mối quan hệ bè bạn với các nhà trí thức. Đó là lý do mà người ta có thể tìm thấy ở ông không chỉ là uy lực mà còn là sự thông tuệ. Và đặc biệt, ông có được từ những người đã gặp và làm việc, không chỉ là sự kính trọng mà còn là sự thân thiện. Sự thân thiện của một con người vẫn thường được gọi: “Anh Sáu Dân”.
Huy Đức








0 nhận xét
Tất cả nhận xét đều bị kiểm duyệt ^^