Hôm nay thấy trên mạng có bài viết về ngành toán học nước ta. Rất thú vị. Tôi nghĩ trong một nước nghèo khó như nước ta mà có những thành tựu toán học của các tác giả như Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, hay mới đây là Lê Bảo Châu rất đáng tự hào. Riêng trường hợp Lê Bảo Châu thì ta dành “credit” thế thôi, chứ thành tựu của anh ấy là do Pháp đào tạo, và nhất là có thầy người Pháp giỏi.
Đứng trên bình diện toàn quốc, có thể nói ngành toán học nước ta không có gì nổi trội cả. Tôi thử làm một so sánh thống kê thì thấy trong thời gian 2000-2005, Việt Nam công bố được 326 bài báo khoa học về toán, với tổng số trích dẫn 797 lần. Tính trung bình, số lần trích dẫn cho mỗi bài báo là 2.4, chỉ số H là 11. Trong cùng thời gian, Si
| Quốc gia | Số bài báo về toán học 2000-2005 | Chỉ số trích dẫn trung bình | Chỉ số H |
| Việt | 326 | 2.44 | 11 |
| | 1474 | 5.43 | 30 |
| | 170 | 1.94 | 7 |
| | 3 | 6.67 | 2 |
| | 17 | 1.41 | 3 |
| | 98 | 1.57 | 6 |
Nhưng nhìn chung thì thế nào? Sau đây là đánh giá của Gs Ngô Việt Trung, viện trưởng Viện toán học: “Nền Toán học của ta có vị trí rất khiêm tốn, chỉ cỡ trung bình trên thế giới.” Thật ra, tôi muốn khiêm tốn hơn: dưới trung bình so với thế giới, nhưng trung bình so với các nước có cùng trình độ phát triển kinh tế. (Tôi chưa gặp anh NVTrung lần nào, nhưng tôi có cảm tình với anh ấy vì qua email tôi thấy anh là người điềm đạm, chừng mực).
Ghi thêm: Trong bài báo có một chi tiết qua sai. Phóng viên viết rằng: “”Mười năm (1995-2004), số bài báo do các nhà khoa học ở nước ta công bố trên thế giới chỉ có 800 bài, phần lớn từ Viện Toán học (300) và Trung tâm Vật lý lý thuyết (131)-PV”.
Thật ra, trong thời gian 1995-2004, nước ta công bố được 3406 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế; trong số này có 319 bài (tức khoảng 9%) về toán học. Còn bao nhiêu là từ Viện toán thì tôi không có thời gian để đếm.
Như vậy, mức độ đóng góp của toán học cho năng suất khoa học nước ta rất khiêm tốn, chứ không phải như nhiều người tưởng. Theo tôi, chúng ta cần các nhà khoa học thực nghiệm (như y sinh học, môi trường, kĩ thuật, v.v…) hơn là cần các nhà toán học. Thành thật mà nói, tôi chẳng thấy ngành toán học Việt
Vậy thì tại sao có người (như Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân) hứa sẽ dành quĩ ưu tiên phát triển ngành toán? Để làm gì? Để có mấy cái huy chương? Nếu chỉ vì huy chương thì tôi e rằng chúng ta quá “childish”.
Trước đây, tôi có viết rằng VN cần nhà khoa học toán (mathematical scientists) hơn là cần nhà toán học (mathematicians). Chúng ta cần những người làm toán biết ứng dụng lí thuyết và phương pháp vào giải quyết các vấn đề thực tế, chứ chúng ta không cần những nhà toán học tự hài lòng với vấn đề do chính mình đặt ra và tự mình giải, mà không biết ứng dụng vào cái gì. Để làm một nhà khoa học toán, người làm toán phải hiểu qui trình làm khoa học thực nghiệm, phải hiểu vấn đề, và biết cách diễn giải vấn đề một cách logic.
Do đó, tôi nghĩ cần phải xem xét lại chương trình dạy toán cấp trung học và đại học, nhất là cho sinh viên chọn và theo học một môn khoa học mà họ muốn ứng dụng toán vào môn khoa học đó. Nhưng đây là việc lâu dài, khi nào có dịp sẽ nói thêm.
NVT
===
http://www.vietimes.vietnamnet.vn/vn/doithoaiviet/5276/index.viet
Đối thoại với GS Ngô Việt Trung- Viện trưởng Viện Toán học Việt
Bài 1: Bức thư gửi Viện trưởng Viện Toán học Việt
http://www.vietimes.vietnamnet.vn/vn/doithoaiviet/5283/index.viet
Bài 2: Thời kỳ hoàng kim của Toán học
Nền Toán học của ta có vị trí rất khiêm tốn, chỉ cỡ trung bình trên thế giới. Nhưng nếu so với thực trạng nền kinh tế và lịch sử phát triển khoa học của Việt
Nền toán học đỉnh cao
Trong lịch sử, Toán học Việt
Toán học theo đúng nghĩa của nó chỉ được đưa vào Việt
Phóng viên (PV): Đặt trong vị thế đất nước lúc bấy giờ thì sự đầu tư này thể hiện điều gì, thưa GS?
Giáo sư Ngô Việt Trung (GS NVT): Điều này khẳng định tầm nhìn của Chính phủ lúc bấy giờ. Không chỉ riêng ngành Toán mà hầu hết các nhà khoa học đầu đàn của Việt
Một ông giáo sư Toán người Hàn Quốc có kể lại cho tôi: trước năm 1945, Toán học gần như không có ở Triều Tiên và phải đến khoảng năm 1954 họ mới có người bảo vệ luận án Tiến sĩ toán học đầu tiên ở Mỹ. Như vậy là Toán học Việt Nam đã phát triển trước Hàn Quốc.
Thế hệ thứ hai của Toán học Việt
PV: Thời kì đó Toán học đã có những đóng góp to lớn chưa, thưa GS?
GS NVT: Những năm 1970 và đầu những năm 1980 là thời kỳ hết sức khó khăn. Tài liệu mới hầu như không có nên mọi người đều phải “tự lực cánh sinh” nghiên cứu tài liệu cũ đem về từ những năm du học. Khi trở về nước, tôi có một thùng tài liệu làm vốn. Cán bộ Viện Toán học hàng tháng được chia một cái bút chì và vài ram giấy đen. Loại giấy này đã được tái chế, một mặt sần sùi lẫn những sợi rác không thể viết được. Chúng tôi phải góp nhặt từng trang giấy trắng và giấy than để đánh máy các công trình. Mặc dù vậy, Toán học Việt
PV: Bắt đầu từ khi nào chúng ta có những bài báo đăng trên tạp chí quốc tế?
GS NVT: Từ giữa những năm 1940, GS Lê Văn Thiêm đã công bố một số công trình về lý thuyết Nevanlina mà ngày nay vẫn còn được trích dẫn. Tuy nhiên, những năm 80 trở về trước có rất ít các bài báo của các nhà toán học Việt
PV: Sự bùng nổ ấy do kinh tế phát triển, sự quan tâm của Nhà nước hay do tính cạ
GS NVT: Do hệ thống trường chuyên và do Nhà nước cử những người giỏi nhất đi học Toán ở nước ngoài trước đó. Lứa học sinh chuyên Toán bắt đầu trưởng thành trong thời kỳ này. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng khi đi du học trở về, môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ đã khiến rất nhiều người giỏi bỏ ngành Toán. Phải là những người say mê Toán học thực sự hay rơi vào môi trường tốt mới tiếp tục làm Toán. Tôi ước tính chỉ có khoảng một phần năm số người đi học Toán ở nước ngoài còn trụ lại với ngành.
PV: Những bài được đăng trên tạp chí có chất lượng hay là... kém chất lượng?
GS NVT: Chất lượng bài vở được các tạp chí chúng ta đăng cũng khác nhau. Tuy nhiên muốn có đỉnh cao thì chân đế phải rộng. Có thể chia các loại tạp chí ra làm 5 loại: đỉnh cao, hàng đầu, khá, trung bình và kém. Số lượng các tạp chí đỉnh cao chỉ có 3-4 tạp chí, các tạp chí hàng đầu khoảng 10-15 tạp chí, các tạp chí khá có hàng chục. Chưa có công trình toán nào làm ở Việt
PV: Các bài báo được đăng trên báo quốc tế phần lớn là Toán học, được xem như là thành tựu lớn của Toán học đóng góp cho Khoa học Việt
GS NVT: Đúng thế. Tỷ lệ của ngành Toán trong số bài báo công bố quốc tế của Việt
PV: GS có thể cho ví dụ?
GS NVT: Có thể kể đến các kết quả nghiên cứu của GS Hoàng Tụy, GS Lê Tuấn Hoa, GS Đinh Văn Huỳnh, GS Đinh Thế Lục. Có người được nêu tên trong hàng chục cuốn sách. Hội Toán học Mỹ có lập cơ sở dữ liệu về tất cả các tạp chí Toán học có uy tín trên thế giới. Từ năm 2000, họ thống kê số lần và số tác giả khác trích dẫn từ công trình của một người nào đó. GS Hoàng Tụy được 209 tác giả trích dẫn 283 lần hay GS Lê Tuấn Hoa được 85 tác giả trích dẫn 112 lần. Số người được trích dẫn hơn 50 lần cũng rất nhiều. Nên nhớ rằng đây chỉ là con số thống kê trích dẫn từ năm 2000 đến nay. Tôi ước lượng mỗi nhà toán học quốc tế trung bình được trích dẫn khoảng 30 lần trong thời gian này. Qua đây có thể thấy được phần nào uy tín của Toán học Việt
PV: Toán học Việt
GS NVT: So với điều kiện kiện kinh tế và lịch sử phát triển thì ngành Toán có những bước phát triển đáng khâm phục. Từ chỗ chủ yếu phải gửi sinh viên và cán bộ trẻ ra nước ngoài học tập, ngày nay chúng ta đã có được một đội ngũ cán bộ nghiên cứu Toán học trình độ cao, đủ sức cập nhật những tri thức Toán học mới nhất, công bố hàng trăm công trình khoa học trên các tạp chí Toán học thế giới, hợp tác một cách bình đẳng với đồng nghiệp quốc tế. Năm 1995, Viện Toán học đã được công nhận là một trong 10 viện xuất sắc (Institute of Excellence) của Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba. Một số nhà toán học Việt
(Mười năm (1995-2004), số bài báo do các nhà khoa học ở nước ta công bố trên thế giới chỉ có 800 bài, phần lớn từ Viện Toán học (300) và Trung tâm Vật lý lý thuyết (131)-PV)
PV: Toán học Việt
GS NVT: Trong một số chuyên ngành Toán học thì chúng ta có để lại ảnh hưởng. Ví như ngành Tối ưu toàn cục mà GS Hoàng Tụy là cha đẻ. (GS Ngô Việt Trung được coi là một trong những GS đầu ngành thế giới về ngành đại số giao hoán - PV). Có rất nhiều nhà toán học Việt
| |
PV: Các tên tuổi về Toán học kể cả GS Việt kiều, thì Việt
GS NVT: Nhiều chứ, đặc biệt là những người sau tôi một thế hệ, khoảng 10-15 năm. Thành công nhất đến nay là Ngô Bảo Châu, người đã từng hai lần đạt HCV thi Olympic Toán quốc tế. Anh làm luận án TS với GS Laumon và bảo vệ năm 1997. Đầu năm 2004, Ngô Bảo Châu và GS Laumon đã làm nên “một quả bom tấn” khi công bố kết quả đột phá về Bổ đề cơ bản trong chương trình Langland, gây tiếng vang lớn trong giới Toán học thế giới. Với kết quả này, anh và GS Laumon đã được tặng giải thưởng Clay danh giá, được mời làm giáo sư tại đại học Tổng hợp
Nhiều người thế hệ này có những bài báo đăng trên ba tạp chí đứng đầu của Toán học thế giới (Annals of Mathematics, Inventiones Mathematics, Journal of the American Mathematical Society) như Lê Tự Quốc Thắng (Đại học Kỹ thuật Georgia, Mỹ), Đinh Tiến Cường (Đại học Paris, Pháp), Nguyễn Tiến Dũng (Đại học Toulouse, Pháp), Vũ Hà Văn (Đại học Rutgers, Mỹ). Những người này đều là các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu của họ.
PV: Vậy thành công của thế hệ mà ông vừa nói chủ yếu là nhờ họ làm việc ở nước ngoài, nơi có điều kiện nghiên cứu?
GS NVT: Thế hệ này được đào tạo cơ bản hơn những thế hệ trước. Họ tự tin hơn, dám vươn đến những vấn đề khó nhất trong Toán học. Phải nói nhiều nhà toán học Việt
PV: GS nghĩ những người này đã đến độ “chín” của họ chưa?
GS NVT: Làm Toán học thường phải xuất chúng
PV: Có thực tế là trong các ngành công nghệ khác thì hầu hết là nhập của nước ngoài nhưng có điều rất tự hào là chúng ta có một nền Toán học đích thực của Việt
GS NVT: Có thể tạm coi là như vậy. So với các nước phát triển Toán học Việt
PV: GS có thể lý giải kỹ hơn về sự phát triển này?
GS NVT: Một thời gian dài những người ưu tú nhất rủ nhau học Toán nên bản thân ngành Toán có ưu thế phát triển hơn các ngành khác. Những bậc tiền bối nắm trọng trách về khoa học như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cố Bộ trưởng Bộ Đại học Tạ








0 nhận xét
Tất cả nhận xét đều bị kiểm duyệt ^^