Có lẽ qui định của Bộ Y tế xuất phát từ một ý định tốt, nhằm giảm tai nạn
Điều đáng nói là qui định của Bộ Y tế được ban hành giống như hiện tượng “từ trên trời rơi xuống”, vì nó không hề được bàn thảo rộng rãi trong cộng đồng. Câu hỏi đặt ra là tại sao chọn ngưỡng chiều cao 145 cm, 150 cm, hay cân nặng 40 kg? Cho đến nay, chưa ai có câu trả lời một cách thuyết phục. Nếu một người có chiều cao 144.9 cm hay cân nặng 39.5 kg (có thể do ảnh hưởng di truyền bẩm sinh hay bệnh tật) thì họ cũng không có giấy phép lái xe, cho dù con số 145 cm vcà 144.9 cm chẳng khác nhau đáng kể trong thực tế. Nói cách khác, một khi qui định dựa vào con số, Bộ Y tế đã vô tình biến con người thành những con số. Cố nhiên, con người không phải là những con số, và do đó, qui định của Bộ Y tế thiếu tính nhân bản.
Vấn đề bằng chứng khoa học
Trước những chất vấn của công chúng, một quan chức thuộc Bộ Y tế khẳng định rằng qui định trên “có cơ sở khoa học”. Nhưng rất tiếc là vị quan chức này không cho biết “cơ sở khoa học” đó là gì, đã được công bố ở đâu, và đã có ai phản biện hay chưa. Thật vậy, khi điểm qua y văn quốc tế, tôi thấy bằng chứng khoa học không phù hợp với lời phát biểu của vị quan chức này.
Thật ra, khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa kích thước cơ thể và tai nạn
Có giả thuyết cho rằng
Trong một nghiên cứu công phu ở New Zealand (1), các nhà khoa học theo dõi 10,525 nam và nữ trong thời gian 1992 đến 1998, ghi nhận số lần tai nạn
| | Số ca tai nạn | Tỉ lệ tai nạn tính trên 10,000 năm-người (person-years) | Tỉ số nguy cơ (relative risk) |
| <23.5 | 41 | 15.5 | 2.4 |
| 23.5 đến 25.8 | 37 | 13.4 | 2.0 |
| 25.9 đến 28.6 | 21 | 9.7 | 1.0 |
| >28.6 | 40 | 14.8 | 2.1 |
| Bảng 1. Nguy cơ tai nạn ôtô tính theo tỉ trọng cơ thể ( | |||
Một nghiên cứu tiếp theo được thực hiện ở Mĩ theo dõi 22,107 người lái xe tuổi 16 trở lên cho thấy mối liên hệ giữa
Biểu đồ 1. Mối tương quan giữa nguy cơ tử vong trong tai nạn giao thông (trục tung) và tỉ trọng cơ thể (trục hoành). Đường biểu diễn hình cong là cho nam giới, và đờng thẳng là cho nữ giới. Nguồn: xem tài liệu tham khảo số 2.
Một nghiên cứu khác ở Mĩ mới công bố năm nay (3) theo dõi trên 1615 người lái xe trên 16 tuổi dính dáng vào các vụ tai nạn ôtô đụng đầu hay tai nạn ôtô do đụng
| | Tỉ lệ tử vong tai nạn trong tai nạn ôtô (%) | Tỉ số nguy cơ (relative risk) |
| 18.5 – 25 | 9.4 | 1.0 |
| 25 – 30 | 16.2 | 1.7 |
| >30 | 20.5 | 2.2 |
| Bảng 2. Nguy cơ tai nạn ôtô tính theo tỉ trọng cơ thể ( | ||
Nghiên cứu ở Thái Lan (một nước có nhiều đặc điểm
Tất cả các nghiên cứu trên đây cho thấy không có ngưỡng
Các nghiên cứu trên đây còn cho thấy một xu hướng nhất quán: nữ giới ít gây tai nạn
Nữ bị thiệt thòi hơn nam
Một câu hỏi quan trọng cần được đặt ra là: có bao nhiêu người Việt
· chiều cao trung bình của nam là 163.3 cm, với độ lệch chuẩn 6.1 cm;
· chiều cao trung bình của nữ là 153.4 cm, với độ lệch chuẩn 5.5 cm;
· trọng lượng trung bình của nam là 63.9 kg, với độ lệch chuẩn 10.4 cm;
· trọng lượng trung bình của nữ là 52.2 cm, với độ lệch chuẩn 11.7 cm;
· hệ số tương quan giữa chiều cao và trọng lượng ở nữ giới là 0.39 và nam giới là 0.45.
Dựa vào những thông số này và một số giả định căn bản, rất dễ ước tính số người Việt
Dựa vào tiêu chuẩn chiều cao thấp hơn 145 cm hoặc trọng lượng nhẹ hơn 40 kg, có khoảng 1% nam và 20% nữ sẽ không được cấp giấy phép lái xe gắn máy trên 50 cc. Ngoài ra, nếu dựa vào tiêu chuẩn chiều cao dưới 150 cm, thì khoảng 1.4% nam và 27.5% nữ sẽ không được cấp giấy phép lái xe ôtô.
Theo ước tính thống kê dân số năm 2007, nước ta có khoảng 24.5 triệu nam và 25.9 triệu nữ tuổi từ 16 đến 65. Như vậy, số người trong độ tuổi này sẽ không được phép lái xe gắn máy trên 50 cc là khoảng 270 ngàn nam và 5 triệu nữ. Ngoài ra, nếu dùng tiêu chuẩn 150 cm, thì có khoảng 319 ngàn nam và 6.61 triệu nữ sẽ không được cấp giấy lái xe ôtô. Nói cách khác, số người nữ không được phép lái xe cao gần 20 lần nam giới!
| Tiêu chuẩn | | Nữ |
| Số phần trăm người có chiều cao dưới 145 cm | 0.2 | 6.6 |
| Số phần trăm người có chiều cao dưới 150 cm | 1.41 | 27.5 |
| Số phần trăm người có trọng lượng dưới 40 kg | 0.9 | 13.7 |
| Số phần trăm người có chiều cao dưới 145 cm hoặc trọng lượng dưới 40 kg | 1.0 | 19.5 |
| Ước tính số người sẽ không được cấp bằng lái xe gắn máy (dưới 145 cm hoặc dưới 40 kg | 269,600 | 5,045,000 |
| Ước tính số người sẽ không được cấp bằng lái xe ôtô (dựa vào tiêu chuẩn dưới 150 cm) | 318,700 | 6,613,000 |
| Bảng 3. Ước tính số người không được cấp giấy lái xe gắn máy và xe ôtô. | ||
Những phân tích trên đây cho thấy rõ ràng rằng qui định của Bộ Y tế gây thiệt thòi cho nữ giới. Như đề cập trên, nữ giới là nhóm người có nguy cơ tai nạn
Cần nghiên cứu cẩn thận
Cần nhấn mạnh rằng các nghiên cứu về mối tương quan giữa tỉ trọng cơ thể và nguy cơ tai nạn
Thật ra, chiều cao và trọng lượng cơ thể không phải là những yếu tố nguy cơ dẫn đến tai nạn
Nhưng bất cứ một chính sách y tế công cộng nào có ảnh hưởng đến một số đông người dân cần phải dựa vào những bằng chứng khoa học vững vàng. Cần nói thêm rằng trước đây ở các nước phương Tây, trước khi qui định bắt buộc thắt dây an toàn trở thành một đạo luật, người ta đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu khoa học và dịch tễ học cho thấy khi tai nạn ôtô xảy ra, người đi xe không thắt dây an toàn có nguy cơ tử vong cao trên 15 lần so với người có thắt dây an toàn. Ngoài ra, các chuyên gia nhiều ngành khác nhau phân tích những lợi và hại của luật này trên quan điểm y tế công cộng, chính trị học, xã hội học, và tâm lí học.
Nhưng rất tiếc ở nước ta, một qui định quan trọng như thế chưa được thảo luận cho đến nơi đến chốn mà Bộ Y tế đã vội vã ban hành. Các quan chức y tế cũng chưa trình bày bất cứ một bằng chứng khoa học để công chúng có thể phản biện. Thật ra, theo một quan chức cao cấp thuộc Bộ Giao thông vận tải thì chưa có nghiên cứu khoa học nào làm cơ sở cho qui định trên. Như vậy, rất có thể qui định của Bộ Y tế không có cơ sở khoa học.
Ngoài ra, nếu qui định này ban hành (và xem ra sẽ thành luật nay mai) thì việc thực hiện cũng không dễ dàng. Theo kinh nghiệm của tôi, đo trọng lượng và chiều cao một cách “lâm thời” thì không khó gì, nhưng đo một cách nghiêm chỉnh như để phục vụ cho nghiên cứu khoa học hay như trường hợp để đánh giá theo một chuẩn mực nào đó có khi rất khó. Nhiều vấn đề đặt ra là quần áo, giầy dép, trang sức phải như thế nào, bởi vì những vật dụng này đều có thể ảnh hưởng đến kết quả đo chiều cao và trọng lượng. Ngoài ra, đo chiều cao sử dụng thước thông thường không chính xác, mà phải sử dụng những thiết bị điện tử như stadiometer thì mới chính xác và tin cậy. Nhưng
Những người có chiều cao thấp hay trọng lượng thấp thường là do bệnh tật, di truyền, hay thiếu dinh dưỡng trong thời kinh tế khó khăn trước đây. Đáng lẽ họ là những người cần được giúp đỡ để đi lại, nhưng qui định của Bộ Y tế lại vô hình chung gây thêm khó khăn cho họ! Đáng lẽ nữ là nhóm cần được biểu dương nhưng họ lại là nhóm chịu nhiều thiệt thòi! Nguyên tắc y đức số 1 của ngành y là “không làm hại người” (do no harm), nhưng rất tiếc qui định mới của Bộ Y tế có thể gây bất tiện, kể cả tác hại, đến một số lớn người dân. Có lẽ cách tốt nhất là rút lại qui định trên và tiến hành những nghiên cứu khoa học để thu thập thêm dữ liệu để đi đến một qui định thuyết phục hơn và đem lại lợi ích cho người dân, cũng như đảm bảo bình đẳng giới tính trong quyền được đi lại.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
(1) Whitlock G, et al. Is body mass index a risk factor for motor vehicle driver injury? A cohort study with prospective and retrospective outcome. International Journal of Epidemiology 2003; 32:147-9.
(2) Zhu S, et al. Obesity and risk for death due to motor vehicle crashes. American Journal pf Public Health 2006; 96:734-9.
(3) Ryb GE, et al. Injury severity and outcome of overweight and obese patients after vehicular trauma: a crash injury research and engineering network (CIREN) study. Journal of Trauma 2008; 64:406-11.
(4) Bohning D, et al. A case-control study of non-fatal traffic accidents on hospital patients in









0 nhận xét
Tất cả nhận xét đều bị kiểm duyệt ^^